Khi tâm thối lui khỏi sự đam mê dục lạc và phát triển một cảm
giác nhàm chán, ghê tởm, lợm giọng đối với sự si mê dục lạc, đó là
phương cách chúng ta thanh lọc tâm để nó không dính vào sự đam mê dục
lạc. Thay vào đó nó sẽ trụ trên sự nhàm chán. Khi tâm nhìn thấy
được những tai hại của sân và thay vào đó có thiện ý, muốn tha thứ,
đó là cách chúng ta hủy diệt sân hận. Khi nhìn thấy được những sự
tai hại của lòng hiểm ác, chúng ta suy nghĩ hay hành động trong những
phương cách không gây hại cho ai. Tất cả những điều này được gọi là
tâm hành thiện (punnabhisankhara).
Khi tâm tạo tác những điều này, dầu thiện hay bất thiện, nó
cũng tự làm xáo trộn mình. Ý nghĩ thiện phải luôn hoạt động để
ngăn cản ý nghĩ bất thiện. Nếu chúng ta suy nghĩ nhiều quá, nó có
thể khiến chúng ta mệt mỏi, cả trong thân và tâm. Khi điều này xảy
ra, chúng ta phải trụ vào một điều duy nhất để mang tâm trở về định
tĩnh.
Khi chúng
ta chú tâm trong định, buông bỏ cả hai tâm hành thiện hay bất thiện,
và thay vào đó tiếp tục trụ trên một đối tượng, điều đó thuộc vào
đặc tính của tâm hành bất biến (anenjabhisankhara).
Cảm giác được hoàn toàn yên tĩnh hay xả trong một thời gian dài
có thể không nằm trong định nghĩa của tâm hành bất biến như là jhana hay những bậc thiền cao hơn. Nó chỉ là một trạng thái không
chuyển dịch đi kèm với chánh niệm và tỉnh giác. Tâm tự ý thức về
bản thân, tự nhìn vào mình, và luôn tự biết bản thân, mà không tạo
tác ý nghĩ thiện hay bất thiện. Nhưng điều này cũng có thể được bao
gồm dưới tâm hành bất biến.
Vì lý do đó, chúng ta phải tìm ra trạng thái tâm vững chãi để
có thể quán sát sâu hơn, để nó không bám víu vào tâm hành bất biến.
Chúng ta phải tiến đến điểm mà chúng ta có thể thấy rõ ràng sự
sinh, trụ, diệt, vô thường, khổ não và vô ngã cũng có mặt ở ngay
đó.
Chúng ta cần phải làm cho nguyên tắc cơ bản này của cái biết
trở nên thật sắc bén như dao - để chúng ta có thể nhìn thấy sự thật
rằng không gì có một bản chất thật, tất cả đều là ảo tưởng.
"Biết" và "không biết" đổi chỗ nhau (hoán vị) nên chúng dường như khác nhau, nhưng nếu chúng ta dính vào hai mặt
này thì chúng ta sẽ bị dính vào tự ngã.
Thực sự, nếu chúng ta biết, chúng ta phải biết cả hai mặt: mặt
biết và mặt không biết, để thấy rằng cả hai đều biến chuyển trong
cùng một cách, cả hai đều giả tạo trong cùng một cách.
Cảm nhận
của chúng ta về hiện tượng tâm sinh lý là tất cả đều thuộc tâm
hành. Chánh niệm là một tâm hành, tỉnh giác cũng là một tâm hành.
Ngay cả tâm vắng lặng hay không vắng lặng cũng là tâm hành. Vì thế
hãy nhìn vào sự vận hành của tâm cho cặn kẽ, chính xác, từ mọi góc
độ, từ bên trong đến bên ngoài.
Sự hiểu biết - của người quán sát hay người biết - cũng là một hành. Tất cả
đều là hành, dầu chúng đúng hay sai, tốt hay xấu. Vì thế, chúng ta
phải rèn luyện tâm thấu đáo, rốt ráo với hành. Khi chúng ta biết tâm
hành rõ ràng, sâu sắc, thì cảm giác nhàm chán sẽ phát sinh. Nếu
chúng ta không làm như thế, chúng ta sẽ bám víu vào các tâm hành
thiện và xua đuổi các ác hành đi.
Chúng ta có thể nhận ra các tâm hành vì chúng luôn biến đổi và
hoại diệt. Lúc đó chúng ta mới ý thức rằng suốt một thời gian dài,
chúng ta đã chạy đuổi theo những thứ giả tạo, những món hàng nhái.
Ngay cả sự hiểu biết rõ ràng cũng là một hành. Nó thay đổi
tùy theo các điều kiện tâm sinh lý. Chánh niệm, tỉnh giác và cái
thấy biết bằng trực giác, tất cả đều là các hành - chỉ là chúng
là các hành thiện, và chúng ta phải tùy thuộc vào chúng trong lúc
này.
Chúng ta phải hiểu các hành, biết cách sử dụng chúng cho đúng
và rồi để chúng ra đi. Ta không cần phải tiếp tục bám víu vào
chúng.
Cái biết là một hành. Không biết cũng là hành. Khi quán sát chúng
từ bên trong, chúng ta thấy rằng cả hai đều sinh và diệt. Ngay chính
các chân lý mà ta biết bằng cách này cũng không kéo dài. Chúng luôn
trở thành cái không biết.
Từ đó ta có thể thấy là các tâm hành có đủ mọi trò ở rất
nhiều mức độ và chúng ta bị dẫn dắt vào cuộc chơi với chúng.
Khi chúng ta có thể biết được các trò của tâm hành ở mọi mức
độ, thì điều đó thực sự hữu ích. Chúng ta sẽ thực sự biết đúng
như những gì Đức Phật đã dạy: "Sabbe sankhara aniccati" (tất cả các pháp hữu vi đều vô thường). Đây là một nguyên tắc
quan trọng giúp chúng ta nhìn thấy khổ trong tất cả các hành.
Ngay cả các thiện hành, như chánh niệm tỉnh giác, tự chúng và trong
chúng cũng chứa khổ vì chúng phải thay đổi luôn. Hiện tại, ta có thể
sử dụng chúng như các dụng cụ cần thiết, nhưng ta không nên bám riết
vào chúng.
Dầu chúng ta phải gìn giữ căn bản trí của mình, sử dụng chánh
niệm tỉnh giác để kiềm chế tâm, chúng ta cũng cần phải hiểu rằng tâm
cũng là một hành. Chánh niệm, tỉnh giác là các hành. Nếu chúng ta
chỉ biết một cách phiến diện rồi đi khắp nơi rêu rao về những gì
chúng ta có thể buông xả khi tu tập, thì chúng ta đã không nhìn sâu
vào các hành. Nếu đó là sự thật thì chúng ta vẫn sống trong dòng
cuộn chảy của hành.
Chánh trí, một tâm hành thiện, cần phải được rèn luyện để đọc
và giải mã sự việc ở bên trong và bên ngoài, kể cả bản thân nó, trên
nhiều bình diện.
Một khi chúng ta đã nhìn thấy được vô thường và khổ, chúng ta
phải nhìn thấu suốt đến sự thiếu vắng của ngã trong tất cả các
hành.
Chúng ta cần phải biết rằng tất cả các pháp là vô thường, khổ
và vô ngã. Hãy tiếp tục quán chiếu như thế cho đến khi chúng ta nhập
tâm điều này. Chỉ có như thế, chúng ta mới phát triển được cảm giác
nhàm chán, vô si. Chúng ta sẽ không chấp vào các pháp thiện hoặc xua
đuổi pháp bất thiện, vì chúng ta đã biết cả hai đều cùng một loại
và cả hai đều biến đổi như nhau.
Dầu chúng ta có duy trì được vị thế của cái biết của mình,
biết chắc rằng tâm không tạo tác gì thêm, chúng ta cũng không bám vào
cái biết ấy, vì chính nó cũng phải biến đổi.
Có nhiều
lúc khi ta nghĩ rằng mình biết sự thật về một vấn đề nào đó, nhưng
rồi ở một lúc khác hay sau lúc đó, cái biết rõ ràng hơn lại phát
sinh. Điều này giúp ta ý thức rằng có cái ta nghĩ là cái biết đúng
nhưng thật ra nó không đúng. Cái biết đó có thể thay đổi. Dầu cái
biết đó có cao tột thế nào, khi nó biến đổi, chúng ta cũng phải nhớ
rằng nó cũng chỉ là một tâm hành; nó vẫn có thể thay đổi ở bất
cứ mức độ nào. Dầu nó có vi tế hay thô, chúng ta phải biết nó rốt
ráo. Nếu không, chúng ta sẽ dính vào đó.
Nếu chúng ta có thể nhìn thấu suốt tất cả các pháp - tốt,
xấu, đúng, sai, người biết, người không biết - đều như nhau, thì trí tuệ
của chúng ta dần tăng vượt lên tất cả những thứ này. Nhưng dầu cho
nó có ở vị trí cao hơn, nó vẫn chỉ là một tâm hành. Nó vẫn chưa
thoát ra được các hành. Ngay cả con đường đạo cũng là một hành. Vì
thế, khi ta tiến bộ trên con đường đạo, khi ta đạt được yếu tố của
chánh kiến, chúng ta cũng phải nhìn thẳng vào vấn đề này, nhìn
thấu suốt các loại tâm hành, không cần biết đặc tính của cái biết
của chúng ta là gì. Dầu chúng ta nhìn một hiện tượng vật lý hay tâm
lý sinh diệt, tất cả cũng là các hành. Ngay cả tâm an định, đó cũng
là một loại tâm hành, cũng như các tầng thiền định jhana.
Nếu không nhìn vào bên trong, chúng ta khiến tâm tăm tối, ù lì.
Rồi khi có sự xúc chạm của giác quan, tâm có thể dễ dàng bị xáo
trộn. Vì thế hãy cố gắng quán chiếu nội tâm cẩn thận để xem có gì
trong tâm, để xem sự vật phát sinh như thế nào, xem tâm phán đoán và
tạo tác như thế nào. Bằng cách đó, chúng ta sẽ có thể hủy diệt
chúng, phá vỡ chúng, đem cho tâm sự đơn giản và thuần khiết, không có
sự đặt tên hay chấp thủ gì cả. Rồi tâm sẽ được giải thoát khỏi các
uế nhiễm. Chúng ta có thể coi đó là vẻ đẹp nội tâm của chúng ta, "Hoa
hậu trống vắng", người không già, không bệnh, không chết - một vẻ đẹp
thuần khiết không biến đổi. Đó là cái chúng ta phải nắm bắt được
ngay trong tâm. Đó không phải là tâm, mà chính tâm là cái tiếp xúc
với nó.
Khi tu tập, chúng ta giống như những người thợ cắt kim cương. Viên
kim cương của chúng ta - cái tâm - bị chôn vùi trong đống uế nhiễm gớm ghiếc.
Chúng ta phải sử dụng chánh niệm tỉnh giác - hay giới, định và tuệ - làm dụng cụ cắt xẻ để làm tâm trong sạch
trong mọi ý nghĩ, lời nói và hành động. Sau đó chúng ta luyện tâm
trở nên lắng đọng và định tĩnh để cái biết sáng suốt có thể phát
sinh. Ở đó chúng ta sẽ gặp một tâm hoàn toàn thuần khiết, không còn
uế nhiễm, không còn tâm náo động: "Hoa hậu trống vắng" của chúng ta,
người thật xinh đẹp, không còn biến đổi, người mà Thần Chết không
thể để mắt đến.
Không biết đây có là điều đáng để chúng ta ngưỡng vọng không,
xin để các hành giả tự mình quyết định điều đó."
Về tác giả: Upasika
Kee Nanayon, còn
được biết đến qua bút danh K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi
tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình
thương nhân Trung Hoa, bà là con cả trong gia đình đông con. Mẹ bà là
một Phật tử thuần thành, đã dạy cho bà những kiến thức cơ bản về
Phật giáo từ khi bà còn rất nhỏ. Ở tuổi vị thành niên, bà đã dốc
hết thời gian rảnh rỗi vào việc tìm hiểu Phật Pháp và hành thiền. Sau
Thế chiến thứ II bà cùng cô chú dọn về vùng núi, nơi mà cả ba người
bắt đầu một cuộc sống hoàn toàn hướng về thiền tập như những đệ
tử nam, nữ tại gia của Đức Phật. Từ một nhóm tu nhỏ, do họ tự lập
nhau trong một tu viện đã bị bỏ hoang dần dần nó đã phát triển để
trở thành một trung tâm tu tập của phụ nữ, và vẫn còn hoạt động cho
đến ngày nay.
[Thaihabooks]
Giới thiệu sách:
Liệu cách cư xử có thật sự là vấn đề quan trọng với cuộc
sống của teen?
Dám
cá với bạn câu trả lời là có đấy. Trừ phi bạn muốn không có bạn bè, chẳng ai
buồn để ý và cô đơn đến khi chết, hãy cư xử thật thô lỗ, ích kỉ và xem chuyện
gì sẽ xảy ra.
Khi teen ở trường
[Thaihabooks]
Giới thiệu sách:
Trường học thật nhàm chán và hà khắc với các teen?
Thái
độ cư xử thô lỗ trong trường học đang ngày một phổ biến hơn, nhưng bạn sẽ không
để mình bị "nhiễm" bất kể kiểu cư xử thô lỗ nào chứ?
Khi teen ở nhà
[Thaihabooks]
Giới thiệu sách:
Teen có thể làm gì khi xảy ra xung đột ở nhà?
Teen
có thể tạo ra một ngôi nhà văn minh, nơi mọi người nói chuyện thay vì hét vào
mặt nhau.